Nhảy đến nội dung
x

Những đóng góp của AIMaS trong hội nghị Vật lý lý thuyết lần thứ 45

Hội nghị Vật lý lý thuyết Việt Nam (trước 2019 là Hội nghị Vật lý lý thuyết toàn quốc) được tổ chức hằng năm vào dịp cuối tháng bảy, đầu tháng tám, kể từ năm 1976. Hội nghị là hoạt động khoa học thường niên lâu đời nhất tại Việt Nam được tổ chức bởi Hội Vật lý lý thuyết, Viện Vật lý (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) kết hợp với các đơn vị tài trợ khác. Đến năm 2020, Hội nghị đã trải qua 45 lần tổ chức.

Hội nghị Vật lý lý thuyết toàn quốc lần này diễn ra từ ngày 12-10 đến 14-10 tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, có 09 báo cáo mời gồm: Nguyễn Ái Việt (Viện Công nghệ Thông tin, ĐHQG Hà Nội), Phan Đức Anh (Trường Đại học Phenikaa), Nguyễn Trương Thanh Hiếu (Viện Tiên tiến Khoa học Vật liệu, Trường Đại học Tôn Đức Thắng), Hirobumi Mineo (Viện Tiên tiến Khoa học Vật liệu, Trường Đại học Tôn Đức Thắng), Shingo Takeuchi (Trường Đại học Phenikaa), Nguyễn Thị Kim Thanh (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), Trần Xuân Trường (Học viện Kỹ thuật quân sự), Lê Thị Cẩm Tú (Viện Tiên tiến Khoa học Vật liệu, Trường Đại học Tôn Đức Thắng), và Nguyễn Thị Hồng Vân (Viện Vật lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam). Thông tin về các báo cáo mời có thể tham khảo trên: https://iop.vast.ac.vn/theor/conferences/nctp/45/index.php?p=399.

Trong đó, Viện Tiên tiến Khoa học Vật liệu, Trường Đại học Tôn Đức Thắng vinh dự có 03 báo cáo mời trên tổng số 09 báo cáo mời của Hội nghị:

1.    Nguyễn Trương Thanh Hiếu (Viện Tiên tiến Khoa học Vật liệu, Trường Đại học Tôn Đức Thắng)

Tên báo cáo: Low-energy electron inelastic mean free paths in materials
(tạm dịch Quãng đường tự do trung bình phi đàn hồi của electron năng lượng thấp trong các vật liệu)

Tóm tắt (lược dịch): Quãng đường tự do trung bình phi đàn hồi (IMFP) là một đại lượng quan trọng trong nghiên cứu quá trình vận chuyển electron trong các chất ngưng tự cũng như trong kính hiển vi điện tử. Trong nhiều thập kỷ, các kĩ thuật thực nghiệm và các mô hình lí thuyết đã được phát triển để xác định đại lượng này. Tuy nhiên, việc xác định chính xác IMFP ở vùng năng lượng thấp vẫn là một thách thức trong cộng đồng Vật lý hiện nay. Gần đây, chúng tôi đã phát triển một cách tiếp cận lí thuyết về vấn đề này trong công trình [1]. Theo đó, chúng tôi đã xác định được IMFPs cho vùng năng lượng dưới 100 eV sử dụng hình thức luận điện môi và lý thuyết phiếm hàm mật độ phụ thuộc thời gian. Kết quả tính toán IMFPs của chúng tôi cho các vật liệu rắn được trình bày trong công trình [2] cũng như với đơn lớp graphene trong công trình [3] đều phù hợp với các dữ liệu thực nghiệm. Trong báo cáo này, tôi sẽ tóm tắt ngắn gọn những bước tiến gần đây trong lĩnh vực này cũng như báo cáo những kết quả mới nhất của chúng tôi. Chúng tôi chứng minh rằng cách tiếp cận của chúng tôi là phổ quát và đáng tin cậy không chỉ cho vật liệu khối mà cũng như cho các vật liệu đơn lớp.

Tài liệu tham khảo:
[1] H. T. Nguyen-Truong, Appl. Phys. Lett. 108, 172901 (2016).
[2] H. T. Nguyen-Truong, J. Phys. Condens. Matter 29, 215501 (2017).
[3] H. T. Nguyen-Truong, B. Da, L. Yang, Z. Ding, H. Yoshikawa, and S. Tanuma, Appl. Phys. Lett. 117, 33103 (2020).

Nguyên văn tiếng Anh tham khảo trên website của Hội nghị: 
https://iop.vast.ac.vn/theor/conferences/nctp/45/program.php?t=3&n=2&n2=0

aimas
TS. Nguyễn Trương Thanh Hiếu trình bày báo cáo tại VCTP 45

2.    Hirobumi Mineo (Viện Tiên tiến Khoa học Vật liệu, Trường Đại học Tôn Đức Thắng)

Tên báo cáo: Theoretical study of dynamic Stark-induced pi-electron rotations in low symmetry aromatic ring molecules beyond the frozen nuclear approximation
(tạm dịch: Nghiên cứu lí thuyết về chuyển động quay của các điện tử pi tạo ra từ hiệu ứng Stark động trong các phân tử vòng thơm có đối xứng thấp sử dụng mô hình cao hơn xấp xỉ hạt nhân đứng yên) 

Tóm tắt (lược dịch): Các hiệu ứng của các mode dao động trong chuyển động quay của các điện tử pi gây ra bởi hiệu ứng Stark động bên trong các phân tử vòng thơm có đối xứng thấp được nghiên cứu bằng xấp xỉ đoạn nhiệt. Các trạng thái dao động thấp nhất trong hai trạng thái kích thích của điện tử được điều chỉnh để trở nên suy biến khi sử dụng hai laser có bước sóng ở miền tử ngoại (UV). Các thông số của hai laser trên (tần số, cường độ) phải thỏa mãn điều kiện mà ở đó năng lượng của hai trạng thái dao động thấp nhất phải bằng nhau. Hai trạng thái suy biến nêu trên được gọi là trạng thái dao động suy biến gây ra bời hiệu ứng Stark động (DSIDVS), là nhân tố cốt yếu để tạo ra mô men động lượng của các điện tử pi liên kết của các phân tử vòng thơm. Dạng tường minh hàm sóng của các trạng thái dao động trên được dẫn ra bằng cách giải giải tích các phương trình Schrodinger phụ thuộc thời gian. Ở đây, số lượng các trạng thái kích thích dao động được giới hạn để rút ra vai trò thiết yếu của chế độ dao động đối với các chuyển động quay của điện tử pi. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phân tử toluen, là một trong những phân tử vòng thơm điển hình có độ đối xứng thấp.

Nguyên văn tiếng Anh tham khảo trên website của Hội nghị:
https://iop.vast.ac.vn/theor/conferences/nctp/45/program.php?t=3&n=6&n2=0

aimas
TS. Hirobumi Mineo trình bày báo cáo tại VCTP 45

3.    Lê Thị Cẩm Tú (Viện Tiên tiến Khoa học Vật liệu, Trường Đại học Tôn Đức Thắng)

Tên báo cáo: Effect of dynamic core-electron polarization on harmonic process of linear molecules
(tạm dịch: Hiệu ứng của phân cực lõi động lên quá trình điều hòa của các phân tử phân cực thẳng)

Tóm tắt (lược dịch): Báo cáo tóm tắt tổng quan về hiệu ứng của phân cực lõi động (DCEP) vào các quá trình điều hòa của phân tử phân cực thẳng. Hiệu ứng phát xạ sóng điều hòa bậc cao (HHG), một trong những hiệu ứng phi tuyến xảy ra khi nguyên tử hoặc phân tử tương tác với laser xung cực ngắn cường độ cao, đã trở thành một công cụ hữu hiệu để trích xuất và điều khiển các quá trình động học của phân tử. Về mặt nguyên tắc, các quá trình trường mạnh có thể được tìm thấy bằng cách giải trực tiếp phương trình Schrodinger phụ thuộc thời gian (TDSE). Tuy nhiên, trên thực tế, phương pháp này thường được xử lý bằng cách sử dụng một số xấp xỉ như gần đúng một electron hoạt động vào những hệ có nhiều hơn hai electron. Trong khuôn khổ của gần đúng một electron hoạt động, chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của DCEP [2] được tạo ra bởi laser lên quá trình phát xạ HHG của các phân tử thẳng như CO (phân tử phân cực) và CO2 (phân tử không phân cực). Sử dụng xung laser vài chu kỳ, kết quả cho thấy DCEP đóng vai trò quan trọng trong phân tử phân cực CO và làm cho kết quả phù hợp hơn với thực nghiệm cũng như với các kết quả lý thuyết khác. Bằng cách khảo sát tốc độ ion hóa phụ thuộc thời gian, chúng tôi giải thích được hoàn toàn cơ chế của DCEP: nó ảnh hưởng lên cường độ sóng điều hòa thông qua sự ion hóa tại một thời điểm cụ thể thay vì là toàn bộ khoảng thời gian laser tương tác theo cách hiểu trước đây. Ngoài ra, dựa vào tốc độ ion hóa tức thời, chúng tôi còn dự đoán được sự ảnh hưởng của DCEP lên cường độ sóng điều hòa của phân tử phân cực [3]. Đối với những phân tử không phân cực như CO2, DCEP có thể ảnh hưởng đến quá trình phát xạ sóng điều hòa thông qua một cơ chế khác – ngăn chặn sự biến dạng mà trường laser gây ra lên orbital phân tử cao nhất được chiếm đóng (HOMO) trong suốt pha tái kết hợp, và phần nào khôi phục lại đối xứng của HOMO [4]. Kết quả là điều này làm dịch chuyển và làm rõ hơn cực tiểu của phổ HHG, vốn xuất hiện do quá trình giao thoa của hai tâm [5]. Hơn thế nữa, ảnh hưởng của DCEP có thể biểu hiện trong trường hợp xung đa chu kỳ, khi đó, DCEP ảnh hưởng đến tỷ lệ cường độ sóng hài chẵn-lẻ phát ra từ CO do mức độ phá vỡ đối xứng của hệ thống laser-phân tử [6].

Tài liệu tham khảo:
[1] A. McPherson et al., J. Opt. Soc. Am. B 4, 595 (1987).
[2] B. Zhang, J. Yuan, and Z. Zhao, Phys. Rev. Lett. 111, 163001 (2013).
[3] C.-T. Le, V.-H. Hoang, L.-P. Tran, and V.-H. Le, Phys. Rev. A 97, 043405 (2018). 
[4] C.-T. Le, D.-D. Vu, C. Ngo, and V.-H. Le, Phys. Rev. A 100, 053418 (2019).
[5] M. Lein, N. Hay, R. Velotta, J. P. Marangos, and P. L. Knight, Phys. Rev. Lett. 88, 183903 (2002).
[6] N.-L. Phan, C.-T. Le, V.-H. Hoang, V.-H. Le, Phys. Chem. Chem. Phys. 21, 24177 (2019).

Nguyên văn tiếng Anh tham khảo trên website của Hội nghị:
https://iop.vast.ac.vn/theor/conferences/nctp/45/program.php?t=3&n=5&n2=0

VCTP44 - Dr Le Thi Cam Tu
Hình ảnh TS. Lê Thị Cẩm Tú trình bày báo cáo tại VCTP 44

Ngoài ra, Viện AIMaS còn có các nghiên cứu viên khác tham gia Hội nghị trình bày các báo cáo của mình như TS. Eibun Senaha, TS. Nguyễn Duy Vỹ, ThS. Lê Trí Đạt và TS. Đỗ Minh Hoạt.

aimas
TS. Eibun Senaha trình bày báo cáo tạo VCTP 45

 

aimas